You are viewing dth155

Tato®o
Ổn định cán cân thanh toán trong bối cảnh hội nhập 
4th-Jul-2008 12:15 am
Ổn định cán cân thanh toán trong bối cảnh hội nhập
07/05/2008 09:41 (GMT+7)

Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong bối cảnh thị trường tài chính trên thế giới ngày càng có mối liên kết chặt chẽ với qui mô và biến động của các luồng vốn tăng rất mạnh.

Đây là cơ hội để tranh thủ nguồn vốn và kỹ thuật từ bên ngoài, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức do nguy cơ đảo chiều của các luồng vốn, nhất là trong bối cảnh kinh tế Mỹ chưa phục hồi và lạm phát toàn cầu gia tăng. Ý thức được xu thế tất yếu của toàn cầu hóa và hội nhập, Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương đã tích cực đàm phán với các đối tác quốc tế và xây dựng lộ trình thực hiện các cam kết WTO nhằm giành thế chủ động trong quá trình hội nhập. Trong đó, một trong những quan tâm hàng đầu là kiểm soát luồng vốn vào và từng bước tự do hóa tài khoản tài chính; dự trữ quốc gia đã được cải thiện dần từ 6,3 tỉ USD năm 2004 lên 8,5 tỉ USD năm 2005 và đạt gần 12 tỉ USD năm 2006. Đáng chú ý, năm 2007 đạt trên 21 tỉ USD, tương đương 3,3 tháng nhập khẩu. Việc trả nợ các khoản vay nước ngoài cũng được thực hiện nghiêm chỉnh mặc dù thu ngân sách ngày càng khó khăn hơn, nhất là trong xu thế giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết.

Tuy nhiên, dự trữ cao chưa khẳng định được khả năng đối phó với luồng vốn ra, khái niệm truyền thống về mức dự trữ phù hợp (bằng 3 tháng nhập khẩu) đang được các nhà hoạch định chính sách và phân tích kinh tế xem xét lại. Trên thực tế, Mêhicô là một quốc gia có mức dự trữ quốc tế tương đối lớn đã phải đối mặt với khủng hoảng lòng tin và luồng vốn ra bất thường đi kèm vào cuối năm 1994 và đầu năm 1995. Hơn nữa, cán cân thanh toán của Việt Nam chưa bền vững, cán cân vãng lai giảm từ 957 triệu USD năm 2004 xuống 217 USD năm 2005 và bắt đầu thâm hụt 164 triệu USD năm 2006 và 6,6 tỉ USD năm 2007. Khả năng tạo được thặng dư tài khoản vãng lai là yếu tố hỗ trợ khả năng thanh toán, nhưng khái niệm ổn định tài khoản vãng lai rất phức tạp vì nó phản ánh mối quan hệ qua lại giữa các quyết định tiết kiệm và đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.

Trong các chỉ số kinh tế, cán cân vãng lai liên quan đến nhiều lĩnh vực, cả xuất nhập khẩu, tiết kiệm, đầu tư, GDP, đầu tư nước ngoài và tổng phương tiện thanh toán. Tài khoản cán cân vãng lai phản ánh tiết kiệm và đầu tư của chính phủ và khu vực phi chính phủ. Cụ thể, cán cân vãng lai thể hiện sự tương đồng giữa tiết kiệm của tư nhân, chính phủ và hoạt động đầu tư. Ví dụ, thâm hụt tài khoản vãng lai có thể bắt nguồn từ sự xấu đi rõ rệt của tình hình ngân sách bất chấp việc có hay không sự cải thiện tiết kiệm ở khu vực tư nhân. Như vậy, cán cân vãng lai dù là chỉ số quan trọng, nhưng tự bản thân nó không chỉ ra được yêu cầu phải có hành động chính sách hay chính sách đối phó thích hợp vì một khoản thâm hụt có thể chỉ là sự mất cân đối tạm thời do sự sụt giá hàng nhập khẩu, nhưng thâm hụt cán cân thanh toán đòi hỏi phải có sự điều chỉnh khi một quốc gia không thể tiếp tục tài trợ cho các khoản thâm hụt một cách vô hạn bằng cách vay nước ngoài hay tiêu tan dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, cán cân vãng lai thâm hụt là dấu hiệu báo trước cho các nhà hoạch định chính sách về khả năng đang có chính sách không lành mạnh. Trong mọi trường hợp, nhu cầu đưa ra chính sách đối phó và sự lựa chọn chính sách thích hợp phụ thuộc vào kết quả xác định những nguyên nhân gây ra sự mất cân đối. Nếu thâm hụt cán cân vãng lai quá lớn, Chính phủ phải có hành động chỉnh sửa thích hợp, kể cả trong trường hợp cán cân vãng lai thâm hụt bắt nguồn từ khu vực tư nhân do sự chấm dứt đột ngột của luồng vốn vào, gây ảnh hưởng lây lan đến những khoản nợ khác. Trong nền kinh tế hội nhập, cần có dự trữ lớn để xử lý những cú sốc không dự báo trước được.

Mức dự trữ được đánh giá trong mối quan hệ với tổng giá trị các hóa đơn nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ dự kiến, các chỉ số mới đây về mức dự trữ phù hợp lại tập trung vào khả năng dễ bị suy yếu về tài chính. Dù sử dụng bất kỳ chỉ số nào về mức dự trữ phù hợp, bản chất của cơ chế tỉ giá cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định mức dự trữ. Thông thường, một quốc gia với cơ chế tỉ giá cố định cần mức dự trữ lớn hơn nước có cơ chế tỉ giá thả nổi, vì dự trữ là cách duy nhất để chống đỡ các cú sốc. Tuy nhiên, trên thực tế, nếu lòng tin vào khả năng của chính phủ trong việc duy trì các chính sách hỗ trợ là cao, một nước với cơ chế tỉ giá cố định có thể không cần có mức dự trữ lớn để bảo vệ đồng tiền của mình. Nếu các chính sách kinh tế của chính phủ tạo được độ tin cậy cao trong các thị trường tài chính thì chỉ cần mức dự trữ khiêm tốn (trường hợp Ba Lan, Argentina, Estonia và một số nước khác). Ngay cả trong cơ chế tỉ giá thả nổi có quản lý, việc thiếu những chính sách kinh tế đáng tin cậy có thể nhanh chóng dẫn đến hiện tượng chảy vốn ra ngước ngoài và tiêu tan dự trữ, thậm chí khi các nhà chức trách cho phép phá giá bản tệ. Do đó, về cơ bản, độ tin cậy của chính sách và lòng tin của những người tham gia thị trường đặt vào các chính sách này là yếu tố cơ bản để xác định mức dự trữ phù hợp, chính sách đáng tin cậy cho phép các nhà chức trách tăng dự trữ bằng cách đi vay nước ngoài với những điều kiện ưu đãi.

Mức dự trữ phải được xem xét trên cơ sở đánh giá các chỉ số về khả năng dễ bị suy yếu về tài chính. Việc này đòi hỏi phải xem xét các biến số phát sinh truyền thống (cán cân vãng lai và ngân sách) và cả các biến số thời điểm (tiền cung ứng trong nước tính bằng ngoại tệ trên giá trị bằng ngoại tệ của dự trữ quốc tế) nhằm hỗ trợ đồng bản tệ trong trường hợp khủng hoảng lòng tin. Dự trữ cần xem xét trong cơ cấu phân theo thời hạn của các tài sản nợ của khu vực công. Tài sản nợ ngắn hạn bằng ngoại tệ vượt mức sẽ làm tăng khả năng suy yếu về tài chính của đất nước. Mức độ mở cửa của nền kinh tế, phản ánh qua tỉ lệ nợ nước ngoài trên GDP, và của tài khoản vốn đối ngoại đều rất quan trọng. Nó giúp xác định mức rủi ro mà đất nước phải chịu do sự biến động của các luồng vốn, điều này sau đó sẽ tác động đến sự cần thiết phải có mức dự trữ lớn hơn để xử lý các cú sốc không dự báo trước được.

Tại Việt Nam, yếu tố chi phối việc xây dựng và hiệu lực của chính sách là hệ thống thông tin với mức độ minh bạch chưa cao và cơ chế quản lý chậm thay đổi, nên các dự báo có độ tin cậy thấp, khó đưa ra được những giải pháp hiệu quả, không khuyến khích doanh nghiệp và người lao động, hậu quả là sản xuất đình đốn, chi phí sản xuất cao, giá hàng hóa trong nước cao hơn ở nước ngoài tính theo tỉ giá tính chéo, nhập khẩu tăng. Việc xóa bỏ trợ giá xăng dầu đang giúp cải thiện dần chất lượng các dự báo do giá cả thế giới (trước hết là giá dầu) được chuyển nhanh đến người tiêu dùng trong nước, góp phần giảm thiểu chi phí trung gian và minh bạch hóa giá cả và khối lượng.

Đối với Việt Nam, yêu cầu ổn định cán cân vãng lai và cán cân thanh toán đòi hỏi phải thực hiện những giải pháp cơ bản sau đây:

– Nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, nhằm tạo lòng tin của công chúng và doanh nghiệp, qua đó hạn chế nguy cơ rút vốn từ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. đồng thời, xây dựng một chương trình điều chỉnh đúng trình tự và có kế hoạch, ngăn ngừa điều chỉnh ngoài kế hoạch khi nguồn tài trợ nước ngoài không có sẵn;

– Xác định tác động của luồng vốn vào. Luồng vốn vào có tác dụng tài trợ cho các khoản thâm hụt cán cân vãng lai lớn hơn (do nhập khẩu tăng và tăng trưởng kinh tế cao hơn), góp phần tăng dự trữ. Mặt khác, luồng vốn vào lớn cũng làm cho các nhà tạo lập chính sách phải quan ngại do luồng vốn vào qui mô lớn có thể gây khó khăn về quản lý kinh tế vĩ mô. Phân biệt luồng vốn ngắn hạn và dài hạn. Chẳng hạn tại Mỹ, sở hữu dưới 10% cổ phiếu công ty được coi là đầu tư chứng khoán;

– Sử dụng các nguồn vốn vào việc tăng năng lực sản xuất nhằm tạo thuận lợi cho việc trả nợ nước ngoài, nhằm tăng tính chủ động trong việc cân đối nguồn ngoại tệ để trả nợ, nhất là đối với trái phiếu chính phủ và những khoản vay sắp đáo hạn;

– Theo dõi cân đối tiền tệ thực tế (M/P) để đánh giá trạng thái lạm phát và diễn biến thị trường, làm cơ sở để can thiệp tỉ giá trong trường hợp cần thiết. Thí dụ, cuối giai đoạn lạm phát, cân đối tiền tệ thực tế (M/P) có xu hướng giảm thấp do các cá nhân và doanh nghiệp hạn chế giữ bản tệ xuống mức có thể để đề phòng sự mất giá bản tệ, các doanh nghiệp sử dụng vàng, ngoại tệ hay tài sản nhằm bảo tồn giá trị tài sản. Vì thế, khi ổn định trở lại, M/P sẽ tăng, các cá nhân và doanh nghiệp sẽ chuyển ngoại tệ và tài sản sang bản tệ. Trong cơ chế tỉ giá thả nổi, thị trường không tự điều chỉnh do NHTW không can thiệp, vì thế M không thay đổi, tạo áp lực tăng giá bản tệ, lãi suất tăng do M/P vẫn thấp, thậm chí sau khi hết lạm phát, gây tổn hại cho nền kinh tế hơn là tỉ giá cố định;

– Tăng tính độc lập của NHNN nhằm hạn chế nhu cầu về tín dụng (áp lực mở rộng tiền tệ). Đồng thời, NHNN cần giám sát chặt chẽ hoạt động của các NHTM và có biện pháp xử lý cần thiết nhằm hạn chế rủi ro, ảnh hưởng đến an toàn hệ thống ngân hàng và hệ thống thanh toán;

– Các NHTM cần chủ động nghiên cứu và áp dụng các chuẩn mực quốc tế vào hoạt động kinh doanh ngân hàng, sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối.

(SBV)
This page was loaded Oct 2nd 2014, 4:27 pm GMT.